KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN (CNTT)

1. Lịch sử hình thành và phát triển

Khoa Công Nghệ Thông Tin (CNTT) có tiền thân là khoa Toán – Tin ra đời năm 1997 – cùng thời điểm thành lập trường Đại học Tôn Đức Thắng. Đến ngày 02/03/2012, Khoa được tách ra và đổi tên thành Khoa CNTT đảm nhận vai trò đạo tào nguồn nhân lực chuyên sâu trong lĩnh vực Khoa học Máy tính để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển bền vững của xã hội. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên Khoa CNTT không những được trang bị khả năng lập trình tốt mà còn được trang bị các kiến thức về phân tích thiết kế hệ thống, quản trị mạng, thiết kế web, quản trị và phát triển các hệ thống thông tin cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Khoa CNTT đã và đang là một trong những khoa có uy tín về giảng dạy và nghiên cứu khoa học của trường Đại học Tôn Đức Thắng. Khoa CNTT có nhiều chương trình hợp tác đào tạo với các công ty lớn như IBM, LogiGear, FSOFT nên sinh viên có khả năng thực hành tốt. Chất lượng đào tạo của Khoa được khẳng định với trên 90 % sinh viên ra trường có việc làm đúng chuyên môn. Nhiều cựu sinh viên của Khoa hiện là những chuyên gia thành đạt, giữ các chức vụ quan trọng trong các doanh nghiệp phát triển phần mềm, các công ty có sử dụng hệ thống thông tin như trưởng dự án hay giám đốc kỹ thuật.

2. Khả năng và cơ hội việc làm của sinh viên

Hiện nay, nhu cầu chuyên viên tin học và phát triển phần mềm là rất lớn đối với các công ty, doanh nghiệp, các cơ quan và tổ chức nói chung. Trước xu hướng đó, Khoa CNTT đã chủ động triển khai các chương trình liên kết đào tạo với các công ty lớn như IBM, LogiGear, FSOFT nhằm hỗ trợ sinh viên về chuyên môn cũng như khả năng thực hành tốt. Bên cạnh đó, Khoa CNTT cũng tạo điều kiện cho sinh viên đến các công ty phần mềm như TMA, Global CyberSoft, Harvey Nash, và nhiều công ty phần mềm khác, để thực tập và học tập thực tế. Vì sinh viên Khoa CNTT được nắm vững lý thuyết và được trang bị kỹ năng nghề nghiệp thực tế nên sau khi ra trường có thể làm việc đúng chuyên môn trong các môi trường nhiều cạnh tranh và áp lực cao.

Hoàn thành chương trình học, sinh viên Khoa CNTT có thể thực hiện tốt các công việc đòi hỏi kỹ năng và kiến thức của một kỹ sư phần mềm, kỹ sư công nghệ thông tin hoặc kỹ sư hệ thống mạng máy tính; có thể khai thác máy tính ở tầm chuyên gia vào giải quyết các vấn đề thuộc hầu hết các lãnh vực trong đời sống xã hội, như tài chính, ngân hàng, quản trị doanh nghiệp, giao thông, giao vận, chính phủ điện tử, giáo dục trực tuyến và nhiều lĩnh vực khác; có cơ hội học lên bậc học cao hơn tại các trường đại học danh tiếng trong và ngoài nước.

Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có cơ hội làm việc tại các doanh nghiệp phát triển phần mềm, các công ty có sử dụng hệ thống thông tin, phát triển các phần mềm ứng dụng, tham gia giảng dạy tại các trường đại học có đào tạo công nghệ thông tin hoặc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực khoa học máy tính.

3. Chương trình đào tạo

Ngành Khoa học máy tính (Công nghệ thông tin)

Khoa học máy tính là ngành học sử dụng máy tính để giải quyết các vấn đề thực tế phát sinh trong mọi hoạt động thực tiễn của xã hội. Sinh viên theo học ngành này, ngoài việc được học theo học chế tín chỉ với chương trình bám sát với nhu cầu thực tiễn, còn có cơ hội giao lưu và học tập các khóa đào tạo chuyên môn ngắn hạn về công nghệ phần mềm với các doanh nghiệp chuyên gia công và phát triển phần mềm; các khóa ngắn hạn về Công nghệ thông tin (CNTT) với các công ty trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Bên cạnh đó, Khoa CNTT còn mở các chương trình liên kết đào tạo với các trường Đại học và các công ty phần mềm có uy tín. Hiện nay, Khoa đang thực hiện 2 chương trình chính:

  • Chương trình liên kết đào tạo 2+2 với Trường Đại học kỹ Thuật Ostrava của Cộng hòa Czech.
  • Chương trình mũi nhọn liên kết đào tạo với Công ty phần mềm LARION COMPUTING.

Ngành Tin học ứng dụng (Bậc cao đẳng)

Chương trình đào tạo Cao đẳng Tin học ứng dụng được xây dựng nhằm đáp ứng cho mục đích đào tạo cử nhân thực hành có khả năng giải quyết những vấn đề thời sự của tin học. Chương trình học được thiết kế linh động nhằm giải quyết 3 mục đích:

  • Có tính thực tiễn cao: Đào tạo cử nhân cao đẳng có kỹ năng thực hành giỏi, có khả năng lập trình tạo các ứng dụng ở mức độ vừa, có kinh nghiệm thao tác trên những phần mềm công cụ và những phần mềm ứng dụng mới có tính thiết thực cao.
  • Khả năng liên thông lên: Chương trình liên thông với hệ đại học, bao gồm các môn chuyên ngành cơ bản nhất của hệ đại học. Ngoài ra, các sinh viên khá có định hướng học tiếp lên đại học có thể chọn thêm một số môn liên thông với hệ đại học trong các học phần tự chọn.
  • Khả năng liên thông xuống: Các sinh viên thuộc hệ đại học không có khả năng hoàn tất chương trình đại học có thể học bổ sung các học phần bắt buộc của hệ cao đẳng để có thể nhận bằng cử nhân cao đẳng. Hầu hết các môn bắt buộc và tự chọn của hệ đại học đều có thể trở thành môn tự chọn của hệ cao đẳng.

Các chương trình đào tạo sau đại học

Từ năm 2013, Khoa CNTT đã được Bộ giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo bậc Thạc sĩ ngànhKhoa học máy tính. Chương trình đào tạo thạc sĩ này được xây dựng nhằm đào tạo những cán bộ ngành Khoa học máy tính với mức độ chuyên môn sâu hơn, đáp ứng cho nhu cầu nghiên cứu cũng như yêu cầu phát triển kiến thức của học viên trong lãnh vực Khoa học máy tính.

Song song với chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, Khoa CNTT còn phối hợp với trường Đại học Tomas Bata, cộng hòa Séc đào tạo trình độ Tiến sĩ theo chương trình Sandwich. Khoa cũng thường xuyên, chủ động tìm kiếm các học bổng cho sinh viên và giảng viên Khoa đi nghiên cứu và học tập tại các nước phát triển.

4. Điều kiện học tập

Trường Đại học Tôn Đức Thắng có cơ sở vật chất hiện đại, đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập đa dạng của sinh viên. Với hệ thống phòng máy tính gồm trên 500 máy tính được trang bị cấu hình mạnh, có thể cài các loại chương trình máy tính, sinh viên có điều kiện học tập thuận lợi cho những môn chuyên ngành.

Khoa CNTT có đội ngũ giảng viên nhiệt tình và giàu kinh nghiệm. Bên cạnh đó, Khoa có câu lạc bộ học thuật hoạt động rất hiệu quả, thu hút sự quan tâm của nhiều sinh viên. CLB học thuật của Khoa định kỳ tổ chức sinh hoạt học thuật với sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu về các lĩnh vực công nghệ phần mềm, mạng máy tính, an toàn và bảo mật thông tin, . . . Ngoài ra, sinh viên cũng được khuyến khích tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động xã hội, các phong trào văn hóa-văn nghệ nhằm học hỏi và trải nghiệm các kỹ năng mềm cần thiết cho các hoạt động nghề nghiệp trong tương lai. Sinh viên sau một năm học ở Khoa CNTT của Trường Đại học Tôn Đức Thắng có thể đăng kí học chương trình của trường đại học danh tiếng ở Châu Âu, như Trường Đại học kỹ Thuật Ostrava của Cộng hòa Czech. Các sinh viên năm 3 hoặc năm 4 sẽ được tham gia các lớp huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp thực tế do các công ty phần mềm, các công ty thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông trực tiếp đào tạo.

5. Mục tiêu hướng tới

Tiếp tục theo đuổi sứ mạng “vì sự nghiệp phát triển con người và một xã hội phát triển ổn định, bền vững”. Tập thể cán bộ Khoa CNTT nói riêng và Đại học Tôn Đức Thắng nói chung cam kết không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy với phương châm “lấy học trò làm trung tâm” nhằm đào tạo cho xã hội những con người có kỹ năng chuyên môn thực tế, có khả năng tư duy phê phán và năng lực giải quyết vấn đề, biết cộng tác với ngưới khác trong công việc và có các kỹ năng mềm cần thiết khác cho hoạt động nghề nghiệp.

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, cùng với sự hỗ trợ từ nhà trường, Khoa CNTT chú trọng đến việc xây dựng nguồn lực để phục vụ tốt nhất công tác giảng dạy. Đó là:

  1. Đội ngũ giảng viên có trình độ, nhiệt huyết và tận tâm được hỗ trợ trang thiết bị hiện đại. Giảng viên không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ giảng dạy.
  2. Khoa chú trọng đến việc thực hành thông qua hệ thống phòng máy với hơn 500 máy tính được trang bị cấu hình mạnh đáp ứng mục tiêu mỗi sinh viên được thực hành riêng một máy.
  3. Tập thể Khoa không ngừng nghiên cứu, nhìn nhận và hoàn thiện chương trình đạo tạo nhằm thích ứng tốt nhất với yêu cầu của xã hội.
  4. Sinh viên được khuyến khích và tạo điều kiện tham gia các hoạt động nghiên cứu như câu lạc bộ học thuật chuyên sâu về ngành và các hoạt động ngoại khóa như công tác Đoàn – Hội, mùa hè xanh, tiếp sức mùa thi. Các hoạt động giúp mỗi cá nhân rèn luyện toàn diện.
  5. Được đào tạo các kỹ năng chuyên môn thực tế bởi các doanh nghiệp trong ngành.